Ưu nhược điểm của máy ảnh mirrorless và DSLR, chọn loại nào?

Một số người có ý kiến rằng cuộc chiến giữa máy ảnh DSLR và máy ảnh không gương lật (máy ảnh mirrorless, hay gọi tắt là MILC) đã kết thúc. Năm 2018 được mệnh danh là ‘năm của mirrorless’ với không dưới bốn thương hiệu lần đầu tiên tham gia vào thị trường này, vì vậy máy ảnh mirrorless hiện đang là mảng thị trường quan trọng từ cả phân khúc entry-level cho đến cấp chuyên nghiệp.

Những thương hiệu lớn đã thành công với DSLR như Canon và Nikon đều đã tiến sâu vào thị trường mirrorless, dù phải nói là hơi chậm chân so với các tên tuổi như Sony, Panasonic… Danh sách các máy ảnh mirrorless tốt nhất trên thị trường vẫn đang thay đổi liên tục khi các mẫu mới xuất hiện. Ngược lại, danh sách các máy ảnh DSLR tốt nhất lại dường như giậm chân và rất ít model mới thêm vào.

Vậy phải chăng là máy ảnh DSLR đã đến cuối vòng đời và máy ảnh mirrorless là tương lai không thể chối cãi? Một số người nói như vậy, nhưng cá nhân mình nghĩ nó phức tạp hơn thế.

Năm 2018 là một năm lớn đối với các hệ thống máy ảnh không gương lật vì Panasonic, Canon và Nikon đều giới thiệu máy ảnh không gương lật full-frame chuyên nghiệp.
Năm 2018 là một năm lớn đối với các hệ thống máy ảnh mirrorless vì Panasonic, Canon và Nikon đều đã phát hành máy ảnh không gương lật full-frame chuyên nghiệp của họ.

Sự xuất hiện vào năm 2018 của Nikon Z6 và Z7, Canon EOS R, Panasonic S1R và S1 nghĩa là máy ảnh mirrorless hiện đang cạnh tranh với máy ảnh DSLR ở mọi phân khúc, dẫn đến một số người cho rằng máy ảnh DSLR đã xác định ngày tàn của chúng(?) Nhưng như mình nói ở trên, chưa chắc chắn!

Thiết kế của máy ảnh mirrorless trông gọn gàng và sexy. Nhiều nhiếp ảnh gia đã bỏ máy ảnh DSLR của họ và đổi sang mirrorless. Tuy nhiên, còn nhiều người khác lại lưỡng lự hơn và họ tiếp tục đặt câu hỏi tương tự: máy ảnh mirrorless có thực sự tốt hơn máy ảnh DSLR không?

Ngắn gọn là: máy ảnh không gương lật chắc chắn có ưu điểm hơn máy ảnh DSLR ở nhiều khía cạnh và chúng có một số lợi thế khác nhau. Tuy nhiên, có nhiều lý do tại sao người dùng mới và những chuyên gia dày dạn kinh nghiệm vẫn thấy máy ảnh DSLR phục vụ họ tốt hơn – không chỉ bởi vì một máy ảnh DSLR giá rẻ vẫn là cách kinh tế nhất để bước chân vào “sự nghiệp” chụp ảnh một cách nghiêm túc.

Vì vậy trong phần dưới đây, mình sẽ phân tích chi tiết các yếu tố chính về công nghệ và thiết kế để cố gắng trả lời câu hỏi “DSLR vs mirrorless” đó một lần… và mãi mãi!

ĐIỂM KHÁC BIỆT LÀ GÌ?

Máy ảnh DSLR và máy ảnh mirrorless đều ghi nhận cảnh vật thông qua ống kính khi bạn sáng tác ảnh, nhưng cách chúng hiển thị thì hoàn toàn khác nhau.

Thiết kế máy ảnh DSLR được phát minh từ rất lâu, trước cả các cảm biến kỹ thuật số, khi cách duy nhất để hiển thị cảnh vật qua ống kính máy ảnh là sử dụng chiếc gương trong thân máy để phản chiếu cảnh vật lên kính ngắm. Khi bạn chụp ảnh, chiếc gương lật lên để hình ảnh có thể chuyển sang mặt sau của máy ảnh nơi phim được phơi ra ánh sáng. Sự khác biệt duy nhất giữa thiết kế máy ảnh SLR (Single-Lens Reflex – phản xạ ống kính đơn) cũ này và các máy DSLR hiện nay là phần phim đã được thay thế bằng cảm biến hình ảnh kỹ thuật số (image sensor).

Các máy ảnh DSLR như Nikon D500 có một chiếc gương bên trong thân máy để phản chiếu hình ảnh lên kính ngắm quang học.

 

Máy ảnh Mirrorless không có chiếc gương như vậy. Hình ảnh truyền thẳng đến cảm biến ở mặt sau của máy ảnh, truyền dữ liệu hình ảnh trực tiếp đến kính ngắm điện tử hoặc màn hình hiển thị ở phía sau. Bằng cách này, nó bỏ qua sự cần thiết của chiếc gương và kính ngắm quang học hoàn toàn.

Nhưng những gì nghe có vẻ như một tình huống win-win thế này thì phức tạp hơn thế. Nhiều người thích kính ngắm quang học của máy ảnh DSLR, các nhà sản xuất máy ảnh không gương lật đã phải phát triển các công nghệ lấy nét tự động mới để cạnh tranh với máy ảnh DSLR và máy ảnh không gương lật vẫn không thể cạnh tranh với máy ảnh DSLR về thời lượng pin và thậm chí – theo ý kiến của nhiều người dùng – cách xử lý của nó đơn giản và tự nhiên hơn.

KHẢ NĂNG LẤY NÉT

Khi máy ảnh không gương lật lần đầu tiên xuất hiện, cách thức mà nó tự động lấy nét về cơ bản giống như máy ảnh compact (point-n-shoot), một hệ thống được gọi là contrast-detect AF. Phương pháp này sử dụng cảm biến hình ảnh chính để đo một điểm tại đó độ tương phản cao nhất khi ống kính di chuyển qua phạm vi lấy nét của nó, và vì đây cũng là cảm biến ghi nhận bức ảnh cuối cùng, phương pháp này rất chính xác, theo kiểu: What-you-see-is-what-you-get.

Nhưng nó cũng cực kỳ kém hiệu quả. Trong thực tế, máy ảnh phải lấy nét tới lấy nét lui cho đến khi nó ở khoảng cách lấy nét mang lại hình ảnh sắc nét nhất. Với máy ảnh compact, ống kính nhỏ hơn nhiều với các thành phần bên trong nhẹ hơn và chúng có thể di chuyển hiệu quả khi lấy nét. Nhưng với máy ảnh không gương lật có cảm biến lớn và các thấu kính quang học to và nặng hơn, phương pháp lấy nét thử-và-sai này trở nên chậm chạp một cách đau thương!

Máy ảnh DSLR lấy nét bằng một phương pháp khác gọi là phase-detect AF. Cách này nhanh hơn nhiều so với contrast-detect AF vì nó so sánh hai phiên bản vật thể từ hai góc khác nhau và có thể nhanh chóng xác định vùng lấy nét và trong khoảng cách bao nhiêu. Về mặt kỹ thuật thì có khả năng nó kém chính xác hơn, vì cảm biến lấy nét được sử dụng để thực hiện điều này tách biệt với cảm biến hình ảnh chính, nhưng chắc chắn là rất nhanh (và vì vậy có nhiều bạn mê nhiếp ảnh vẫn cảm thấy DSLR có gì đó rất tự nhiên!).

Máy ảnh DSLR sử dụng các cảm biến phase-detect AF riêng biệt được gắn phía sau và bên dưới gương để chụp qua viewfinder, nhưng phải chuyển sang lấy nét tự động trên cảm biến ảnh để xem live-view trên màn hình phía sau.

 

Máy ảnh mirrorless chỉ sử dụng cảm biến chính để lấy nét tự động cả khi chụp qua viewfinder và xem live-view trên màn hình phía sau. Nhiều máy ảnh mirrorless hiện nay đã được trang bị phase-detect AF tích hợp trực tiếp trên cảm biến.

 

Máy ảnh mirrorless không thể sử dụng cảm biến phase-detect AF riêng biệt vì nó sẽ cản trở ánh sáng chiếu tới cảm biến, vì vậy trong một thời gian dài, máy ảnh không gương lật thực sự không thể cạnh tranh với máy ảnh DSLR về tốc độ lấy nét tự động. Tuy nhiên, về sau, các hãng sản xuất máy ảnh mirrorless đã tìm thấy câu trả lời quan trọng – họ đã tích hợp được tính năng phase-detect AF vào chính cảm biến hình ảnh. Các hệ thống lấy nét tự động lai (hybrid AF) của máy ảnh mirrorless mới nhất sử dụng các điểm phase-detect AF để có tốc độ nhanh và dùng contrast-detect AF để có độ chính xác cao nhất và hiện đang thách thức các máy ảnh DSLR về tốc độ lấy nét.

Hệ thống Dual Pixel CMOS AF dựa trên cảm biến của Canon, hoạt động trên phase-detect AF, hiện được thấy trên các dòng máy ảnh cả mirrorless và DSLR của hãng, và có nghĩa là các model như EOS M6 (hình trên) có thể lấy nét rất nhanh – và những ưu điểm tương tự cũng áp dụng cho các model DSLR mới của Canon.

Hiện tại, Canon và Nikon đã có những con đường phát triển hơi khác nhau trong công nghệ DSLR và mirrorless. Ví dụ, máy ảnh DSLR Nikon D850 sử dụng phase-detect AF để chụp qua viewfinder nhưng dùng contrast-detect AF cho chế độ liveview, trong khi đó, máy ảnh mirrorless Nikon Z6 có hệ thống cảm biến phase-detect AF lai, xử lý cả chụp ảnh bằng viewfinder và liveview – máy ảnh mirrorless Nikon có một lợi thế kỹ thuật nhất định.

Nhưng với Canon thì họ sử dụng hệ thống phát hiện theo pha Dual Pixel CMOS AF trên cảm biến ở cả máy ảnh DSLR và máy ảnh mirrorless của mình, vì vậy, máy ảnh DSLR EOS 5D Mark IV cung cấp tính năng phase-detect AF trên cả chụp qua viewfinder (thông qua cảm biến chuyên dụng) và liveview (thông qua cảm biến chính). Dòng máy ảnh mirrorless EOS R và RP của Canon sử dụng phiên bản tinh vi hơn của hệ thống Dual Pixel CMOS AF này cho cả chụp qua viewfinder và liveview, nhưng lợi thế kỹ thuật của máy ảnh mirrorless so với DSLR thì nhỏ hơn.

Lấy nét chỉ là một phần của những gì làm cho máy ảnh phù hợp với một loại nhiếp ảnh cụ thể nào đó và nhiều nhiếp ảnh gia thể thao tiếp tục sử dụng máy ảnh DSLR thay vì máy ảnh mirrorless. Mặc dù vậy, máy ảnh mirrorless hiện tại đã có thể được sử dụng tốt cho loại nhiếp ảnh này, thể loại mà trước đây chúng hoàn toàn không phù hợp.

KÍNH NGẮM – VIEWFINDER

Kiểu thiết kế của máy ảnh mirrorless dẫn đến chúng buộc phải dùng đến kính ngắm điện tử (electronic viewfinder, hay gọi là EVF). Dù nó đã được cải thiện rất nhiều trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng thật ra vẫn còn những ý kiến trái chiều! Trong những ngày đầu độ phân giải của nó quá thấp để có thể hiển thị rõ nét và chi tiết các cảnh vật trước ống kính như kính ngắm quang học và nó phản ứng khá chậm khi bạn di chuyển máy ảnh nhanh, dẫn đến khó theo dõi các đối tượng đang chuyển động.

Kính ngắm điện tử chất lượng cao hiện đã thấy trên nhiều máy ảnh mirrorless

Các EVF ban đầu có thể hoạt động khá kém, nhưng các EVF mới nhất và tốt nhất hiện nay có độ phân giải cao đến mức bạn khó có thể nhìn thấy các ‘điểm’ (dots) và chúng tạo ra độ rõ nét gần tiệm cận với kính ngắm quang học. Các máy ảnh mới của Panasonic Lumix S có độ phân giải EVF cao nhất với hơn 5 triệu điểm.

Độ trễ của viewfinder không còn là vấn đề so với trước đây là nhờ tốc độ refresh nhanh hơn và phần trọng tâm gần đây nhất mà các hãng tập trung là ở hiệu ứng blackout như bạn thường thấy khi chụp các loạt ảnh liên tục (bursts). Sony đã thành công để loại bỏ điều này trên model A9 và hiện tại , Panasonic cũng đã công bố khả năng tương tự trên model G9.

Trên hết, kính ngắm điện tử cho phép bạn xem hình ảnh với bất kỳ thay đổi nào đối với việc phơi sáng, cân bằng trắng, cài đặt màu, v.v… nó thể hiện ngay lập tức, kính ngắm quang học thì không thể làm được điều này.

Hầu hết các kính ngắm điện tử cũng có thể hiển thị hình ảnh rõ ràng hơn trong điều kiện ánh sáng yếu – một lợi ích thường bị đánh giá thấp – và nhiều dòng máy cho phép điều này mà hầu như không bị nhiễu trong các điều kiện như vậy.

Kính ngắm 3,6 triệu điểm của Panasonic GH5 từng là một trong những loại tốt nhất nhưng đã bị Lumix S1 và S1R vượt qua.

Có gì hay với kính ngắm quang học?

Đúng là kính ngắm quang học (Optical ViewFinder) không hiển thị phiên bản số hóa của hình ảnh được chụp, nhưng bạn sẽ phải quan sát nó trên màn hình ở mặt sau của máy ảnh ngay khi bạn chụp ảnh.

Hơn nữa, nhiều nhiếp ảnh gia thích chế độ xem ‘bằng mắt thường’ của kính ngắm quang học thay vì trên màn hình điện tử. Thật sai lầm khi cho rằng kính ngắm điện tử EVF bản chất sẽ thể hiện ‘chính xác’ bức ảnh cuối cùng hơn. Bởi vì sự thể hiện không chỉ phụ thuộc vào các cài đặt của máy ảnh (mà nếu bạn chụp ảnh RAW thì hoàn toàn có thể thay đổi về sau) mà nó còn phụ thuộc vào chất lượng, độ tương phản và độ chuẩn của chính tấm nền hiển thị EVF. Chẳng hạn, nó thường hiển thị độ tương phản cao hơn so với hình ảnh được chụp, và có thể đánh lừa bạn trong việc điều chỉnh các thiết lập phơi sáng mà đáng lý ra không cần thiết.

Kính ngắm quang học DSLR vẫn còn phổ biến vì chúng cung cấp một cái nhìn ‘bằng mắt thường’ về thế giới bên ngoài, không có độ trễ hiển thị và các hiệu ứng của hình ảnh số hóa.

Kính ngắm quang học đã trở nên thông minh hơn. Các thiết lập chụp ảnh hiện chồng lên trên khung ngắm, cho phép hiển thị nhiều thông tin hơn bao giờ hết. Điều này là cơ bản nhất đằng sau công nghệ kính ngắm thông minh của Canon.

Máy ảnh không gương lật Fujifilm X-Pro2 đặc biệt ở chỗ nó cung cấp bộ kính ngắm lai, kết hợp cả hai loại viewfinder quang học và điện tử. Hầu như các máy ảnh mirrorless khác đều không có viewfinder (nhưng có khả năng gắn thêm vào qua hot-shoe) hoặc một chiếc bằng điện tử.

Kính ngắm quang học có một lợi thế quan trọng khác đặc biệt phù hợp với các nhiếp ảnh gia thể thao và hành động. Đó là khó có thể tránh khỏi hiện tượng mất màn hình ở chế độ chụp liên tiếp của máy ảnh khi chiếc gương lật lên xuống giữa các lần phơi sáng, nhưng điều này hiếm khi xảy ra – điểm quan trọng là không có độ trễ và việc theo dõi đối tượng chuyển động nhanh sẽ dễ dàng hơn nhiều với một máy ảnh DSLR tốc độ cao như Nikon D500 chẳng hạn, so với máy ảnh mirrorless tầm trung.

THỜI LƯỢNG PIN

Ngay cả các máy ảnh DSLR dòng cơ bản nhất cũng sẽ dễ dàng phục vụ chụp đến 600 bức ảnh cho mỗi lần sạc pin, nhưng phần lớn đều cho khả năng kéo dài đến bốn con số. Chẳng hạn, mẫu máy ảnh DSLR entry-level Nikon D3500, có thể chụp tới 1.550 bức ảnh trong một lần sạc. Các máy ảnh DSLR tốt nhất có thể tạo ra gần 4000 tấm cho mỗi lần sạc, mặc dù điều này phải đi kèm với pin lớn hơn đáng kể.

Tuy nhiên, máy ảnh mirrorless thua kém hơn nhiều ở khoản này, thông thường với khoảng 350-400 tấm cho mỗi lần sạc, trong khi một số thì ít hơn rất nhiều. Các mẫu Sony A7R III có thể chụp 650-shot, gần như gấp đôi so với những mẫu tiền nhiệm của nó, đó là một bước tiến đáng kể. Nhưng mẫu máy ảnh mirrorless Canon EOS RP mới ra pin chỉ có thể trụ được qua 250 bức ảnh. Thời lượng pin là một vấn đề lớn đối với máy ảnh mirrorless, nhưng tại sao lại như vậy?

Ấn tượng như mẫu Sony A9 đầu bảng, thời lượng pin của nó cũng chỉ trụ khoảng 480 bức ảnh với EVF và khoảng 650 với màn hình LCD, thấp hơn đáng kể so với một chiếc DSLR tương đương.

Trước tiên, máy ảnh mirrorless phụ thuộc nhiều vào pin hơn so với máy ảnh DSLR. Màn hình LCD của nó thường phải bật mọi lúc và nếu không thì kính ngắm điện tử phải thế chỗ, và cả hai đều tiêu tốn nhiều pin. Ngược lại, kính ngắm quang học chỉ cần một lượng pin vừa phải cho các phần hiển thị thông tin đè lên trên kính ngắm.

Hơn nữa, thực tế là hầu hết các nhà sản xuất cố gắng tạo ra các mẫu mirrorless nhỏ nhất có thể, nghĩa là pin của nó cũng nhỏ theo. Nhiều máy ảnh mirrorless còn có trang bị chức năng ổn định hình ảnh được tích hợp trong thân máy (In-body Image Stabilizer), điều này làm giảm đáng kể thời lượng pin (mặc dù bạn cũng sẽ thấy thời lượng pin kém hơn với tính năng ổn định hình ảnh trên ống kính, cả ở máy DSLR hoặc máy mirrorless).

Các máy ảnh như Sony A6500 có thể sạc pin qua cổng USB

Tất nhiên, bạn có thể mua pin dự phòng cho máy ảnh ở cả hai loại, vì thế đây có phải là vấn đề lớn hay không thì chưa chắc chắn. Tuy nhiên, một lợi thế của máy ảnh không gương lật là nhiều máy hiện cung cấp khả năng sạc qua cổng USB, như Sony A6400, rất thuận tiện khi đi du lịch.

KÍCH THƯỚC

Ưu điểm thường được công bố nhất của các hệ thống không gương lật là chúng nhỏ hơn nhiều so với máy ảnh DSLR. Mặc dù công nghệ xử lý hình ảnh và cảm biến khác nhau giữa máy ảnh DSLR và máy ảnh không gương lật, nhưng thực tế là nhiều mẫu máy mirrorless sử dụng cùng loại cảm biến APS-C và full-frame mà bạn sẽ tìm thấy trong máy ảnh DSLR có nghĩa là không có hệ thống nào có lợi thế vốn có khi bàn đến chất lượng ảnh. Nhưng đây chính là lợi thế thuyết phục người mua của mirrorless: cùng kích thước cảm biến và chất lượng hình ảnh như DSLR nhưng với kích thước nhỏ hơn.

Các mẫu Canon EOS M50, chẳng hạn, có cảm biến và công nghệ tương tự như máy DSLR tương đương của Canon, nhưng là một phiên bản nhỏ hơn.

Lý do chính là máy ảnh DSLR phải có chiếc gương ngay sau ngàm ống kính và kính ngắm quang học được gắn phía trên nó, trong khi máy ảnh mirrorless thì không. Trên các mẫu máy DSLR entry-level có thiết kế ‘pentamirror’ như Nikon D3500, điều này không ảnh hưởng lớn đến trọng lượng, nhưng các máy DSLR tiên tiến hơn có lăng kính thủy tinh trong buồng ngắm của chúng thì nặng hơn đáng kể.

Máy ảnh DSLR chuyên nghiệp và cao cấp thường được thiết kế với kính ngắm pentaprism năm góc bằng kính, nặng hơn các loại pentamirror được tìm thấy trong các thân máy DSLR rẻ hơn.

Thường có sự đánh đổi trong việc làm cho thân máy ảnh mirrorless quá nhỏ gọn, chẳng hạn như kích thước của cảm biến và thời lượng pin, cùng với cách máy ảnh xử lý với ống kính lớn hơn và có thể lắp bao nhiêu thiết bị điều khiển bên ngoài.

Một số mẫu máy ảnh mirrorless được thiết kế như một phiên bản nhỏ hơn của máy DSLR trong khi một số khác có hình dạng ‘rangefinder’ hình chữ nhật nhỏ gọn. Chúng thường được thiết kế cho người dùng mới bắt đầu hoặc những người nâng cấp việc chụp ảnh từ smartphone lên, quen với kiểu điều khiển qua cảm ứng hơn các nút bấm và núm dial. Vì thế, thiết kế bên ngoài trơn tru sẽ không vấn đề gì với họ. Các mẫu Olympus PEN E-PL9 là điển hình của máy ảnh mirrorless nhỏ được thiết kế cho đối tượng người dùng mới này.

Nhiều máy ảnh mirrorless có một báng cầm nhỏ được đặt ở mặt trước, thay vì được thiết kế to chắc hơn như thấy trên hầu hết các máy ảnh DSLR.

Body nhỏ cũng có nghĩa là điều khiển nhỏ và những ai có bàn tay to có thể sẽ thấy không thoải mái với các model nhỏ như thế. Điều này cũng tương tự với màn hình cảm ứng, với các nút ảo và phím điều khiển thường quá nhỏ để chạm một cách dễ dàng, vì vậy mặc dù máy ảnh DSLR Nikon D850 có vẻ rất lớn so với máy ảnh không gương lật full-frame, nhiều tay máy chuyên nghiệp sẽ thích kích thước to của nó vì nó làm nó cho phép dễ dàng thao tác các thiết lập hơn nhiều – và một phần vì nó cân bằng tốt hơn với các ống kính lớn, mà đó cũng là nội dung đề cập trong phần tiếp theo.

Máy ảnh mirrorless cơ bản nhất của Canon, EOS M100, chỉ có một số ít phím điều khiển vật lý, nghĩa là bạn phải dựa chủ yếu vào màn hình LCD của nó cho nhiều thao tác.

ỐNG KÍNH

Bất cứ ai dùng máy ảnh DSLR Canon EOS ngày nay đều có thể xem xét danh mục ống kính kéo dài đến 30 năm để lựa chọn và nhiều hơn nữa khi bạn chọn các ống kính tương thích của bên thứ ba. Người dùng Nikon và Pentax thoải mái hơn nữa, với các hệ thống tương ứng họ dễ dàng chấp nhận ống kính từ các mẫu thậm chí cũ hơn mà không có bộ adapter (mặc dù có một số hạn chế). Điều này đặc biệt đúng đối với các máy ảnh DSLR full-frame như Canon EOS 6D II, Nikon D850 và Pentax K-1 Mark II.

Canon hiện đã sản xuất đến hơn 130 triệu ống kính ngàm EF!

Các nhà sản xuất máy ảnh mirrorless phần lớn không có được bước khởi đầu này, mặc dù Sony đã mất nhiều thời gian để cho ra đời một loạt ống kính ấn tượng cho máy ảnh mirrorless ngàm FE full-frame và Panasonic cũng đã thật khôn khéo để tham gia vào L- Mount Alliance cùng với Sigma và Leica để đảm bảo họ sẽ có hơn 40 ống kính full-frame nguyên gốc cho máy ảnh mới của Panasonic S vào cuối năm 2020.

Nikon và Canon đã đặc biệt thông minh với máy ảnh mirrorless full-frame mới của họ. Nikon Z 6 và Z 7 có dãy ống kính còn khiêm tốn nhưng đang được phát triển nhanh, nhưng bạn cũng có thể trang bị bộ chuyển đổi ngàm FTZ để sử dụng bất kỳ ống kính DSLR hiện tại nào của Nikon mà không bị hạn chế. Canon cũng đã ra mắt bộ adapter ống kính cho máy ảnh mirrorless full-frame EOS R và EOS RP mới, mở ra cánh cửa với toàn bộ dãy ống kính EF lâu đời của DSLR cho các máy mirrorless này.

Hệ thống ống kính đa dạng của Panasonic dành cho máy ảnh mirrorless được kết hợp cùng các tùy chọn tương thích từ Olympus, Sigma và Samyang.

Fujifilm và Olympus cũng đã có thời gian phát triển hệ thống ống kính riêng của họ, đến mức mà không một thương hiệu máy ảnh mirrorless nào (khi hệ thống của Panasonic S vào cuộc) có bất lợi thực sự về lựa chọn ống kính.

Các nhà sản xuất cố gắng tạo ra các ống kính nhỏ gọn nhất có thể cho máy ảnh mirrorless của họ, trong đó ống kính ‘nắp che thân máy’ này từ Olympus là ví dụ cá biệt nhất.

Nhưng ống kính mirrorless có thực sự nhỏ hơn?

Đây là nơi bong bóng mirrorless có nguy cơ vỡ cao nhất. Các nhà sản xuất máy ảnh mirrorless thực ra có thể cho thấy thân máy ảnh của họ nhỏ hơn rất nhiều so với các máy DSLR, nhưng điều tương tự khó có thể nói đối với các ống kính.

Ống kính FE 135mm f/1.8 G Master mới của Sony chứng minh rằng kích thước ống kính không phụ thuộc vào thiết kế DSLR hay mirrorless, và các ống kính tốt nhất thường to, nặng và cồng kềnh bất kể như thế nào.

Một sự thật khó chịu là kích thước cảm biến quyết định phần lớn kích thước của các ống kính đi cùng với nó. Một số thương hiệu mirrorless đã sản xuất các ống kính nhỏ hoặc có thể thu lại giúp giảm kích thước, nhưng chúng đi kèm với các đánh đổi khác và khi họ cố gắng làm cho chúng đáp ứng các thông số kỹ thuật và khả năng như ống kính DSLR, thì cuối cùng chúng cũng có kích thước như nhau!

Điều này không chỉ làm suy giảm khẩu hiệu ‘mirrorless is small’, nó tạo ra các vấn đề xử lý với các kết hợp ‘lens-body’ nhất định. Thân máy ảnh A7 Series của Sony có kích thước nhỏ đáng kể, nhưng nhiều ống kính của nó – đặc biệt là ống kính G Master cao cấp – thì khá to. Bạn có thể sẽ thấy cần phải mua một battery-grip cho thân máy mirrorless của mình chỉ để làm cho nó cân bằng và chắc chắn hơn với các ống kính yêu thích của bạn.

VIDEO

Đây là điểm mà máy ảnh mirrorless có lợi thế đáng kể và vì hai lý do chính. Đầu tiên, thiết kế của chúng làm cho chúng phù hợp hơn nhiều với chế độ liveview cần thiết để quay video. Thứ hai, đây là nơi các nhà sản xuất máy ảnh đang tập trung các công nghệ quay video của họ và là nơi bạn sẽ có được nhiều tính năng và hiệu năng video tốt nhất.

Máy ảnh DSLR cũng có thể quay video

Trên thực tế, đây là nơi việc quay video chính thống với máy ảnh hoán đổi ống kính bắt đầu. Nikon D90 đã đưa video HD đến thị trường tiêu dùng và Canon EOS 5D II đã đưa máy ảnh DSLR vào lĩnh vực videography và quay phim chuyên nghiệp.

Đối với các máy DSLR hiện nay, quay video là một tính năng tiêu chuẩn và Nikon D5 , D850 và Canon EOS 5D IV cung cấp khả năng quay video 4K dễ dàng đáp ứng cho tất cả mọi người trừ những nhà quay phim chuyên nghiệp đòi hỏi khắt khe nhất. Các nhà làm phim chuyên nghiệp sẽ hướng về máy camcorder chuyên nghiệp và cinema camera, nhưng máy chụp ảnh với ống kính hoán đổi đang ngày càng tiến sâu vào khu vực của họ.

Đừng cho rằng máy ảnh DSLR không thể quay video – Canon EOS 5D IV thực sự khá tốt về nó.

Tuy nhiên, vấn đề đối với thiết kế DSLR là quay video là một hành động không tự nhiên. Nó có nghĩa là lật gương lên và phơi cảm biến liên tục theo cách mà những máy ảnh này không bao giờ được thiết kế để làm như vậy. Bản thân nó không phải là vấn đề với máy ảnh mirrorless vì nó ờ trạng tháy này mọi lúc, nhưng việc lật gương này mang tính cơ học và có vẻ dư thừa.

Tệ hơn, các hệ thống lấy nét tự động của DSLR thường được hướng tới việc chụp bằng viewfinder với cảm biến phase-detect AF riêng biệt. Chúng bị vô hiệu hóa trong khi xem liveview / quay video và trong khi Canon đã phát triển hệ thống Dual Pixel CMOS AF trên cảm biến cho cả máy ảnh DSLR và máy ảnh mirrorless, máy ảnh DSLR của Nikon vẫn dựa vào contrast-detect AF tương đối chậm ở chế độ xem liveview / video.

Nhưng máy ảnh mirrorless thì tốt hơn

Máy ảnh DSLR có thể quay video tốt, điều đó tốt cho các nhiếp ảnh gia thương mại làm việc cho các khách hàng yêu cầu điều này cùng với hình ảnh tĩnh. Nhưng các nhà sản xuất máy ảnh mirrorless đã có nhiều năm để phát triển các hệ thống AF trên cảm biến vượt trội so với các máy DSLR và đây là nơi mà hầu hết các nỗ lực phát triển tính năng video được tập trung vào.

Máy ảnh mirrorless chính thống hiện đang thực sự rất tốt về video và Fujifilm X-T3 đa năng giờ đây có thể thách thức các máy quay video chuyên dụng.

Sony đã đi đầu với video 4K ‘oversampled’ chất lượng cao trong các máy ảnh dòng A7 không gương lật full-frame như A7 III, và Fujifilm và Panasonic hiện có máy ảnh có khả năng quay video 4K ở tốc độ 60 / 50fps để giúp tạo hiệu ứng chuyển động chậm 2x mượt mà trong Fujifilm X-T3 và Panasonic GH5 và GH5S .

Nếu bạn chỉ thỉnh thoảng quay video thì máy ảnh DSLR sẽ ổn, nhưng nếu cần quay nó như một phần quan trọng (hoặc quan trọng nhất) trong công việc của bạn, thì mirrorless là con đường để đi. Đó không chỉ là máy ảnh – ống kính mirrorless ngày càng có bộ truyền động lấy nét công nghệ cao và công nghệ AF dùng động cơ bước êm ái để lấy nét mượt mà và yên tĩnh khi quay phim; phần lớn các ống kính DSLR được thiết kế tại thời điểm mà điều này thậm chí không được tưởng tượng đến.

TỪ CUỐI CÙNG

Đối với một số người, đó là sự hiện diện của một hoặc hai tính năng quan trọng đối với hoạt động chụp ảnh của họ đã thúc đẩy họ đến một hệ thống mirrorless. Có quá nhiều thứ để chọn đi theo hướng này, nhưng ngay cả khi chúng ta chỉ tập trung vào một thứ, cụ thể là chụp không tiếng động, chúng ta có thể thấy sự khác biệt thực tế này có thể tạo ra.

Bất cứ ai thường xuyên chụp trong các điều kiện mà sự thận trọng là chính sẽ đánh giá cao khả năng chụp ảnh lặng lẽ của máy ảnh. Máy ảnh DSLR có thể cung cấp khả năng chụp ‘yên tĩnh’ hoặc ‘không tiếng động’, nhưng chúng chỉ đơn giản làm giảm hoặc trì hoãn âm thanh cơ học và không thể loại bỏ nó hoàn toàn. Phải nói rằng, Nikon D850 cung cấp chế độ liveview thực sự im lặng – cho thấy không chỉ có máy ảnh mirrorless có thể làm được điều này.

Trong một số trường hợp, các công nghệ mà các nhà sản xuất máy ảnh phải phát triển cho máy ảnh mirrorless cũng có thể mang lại lợi ích cho máy ảnh DSLR. Dual Pixel CMOS AF trong các máy ảnh DSLR của Canon như EOS 5D IV và EOS 80D là một ví dụ và chế độ màn trập im lặng trong Nikon D850 là một ví dụ khác.

Máy ảnh không gương lật vẫn cần cửa chớp cơ học, ngay cả khi chúng không cần gương. Hiện tại, cửa chớp ‘điện tử’ không chụp được toàn bộ cảm biến một cách đủ nhanh để chụp các đối tượng chuyển động nhanh, do đó, mặc dù chúng cung cấp tốc độ màn trập siêu nhanh cho khẩu độ rộng trong những ngày nắng sáng, nhưng chúng không tốt cho các đối tượng chuyển động.

Tùy chọn ‘Q’ để chụp im lặng của Nikon được truy cập thông qua núm xoay dial, nhưng D850 cũng có thể chụp trong im lặng.

 

Tùy chọn màn trập im lặng của D850 làm cho nó hoàn hảo để chụp ảnh cưới, công cộng và sự kiện.

Khi nào nên chọn máy ảnh DSLR

Những người quá phấn khích với máy ảnh mirrorless sẽ có nhiều lý do để tranh luận, nhưng thực tế đây không phải là cuộc chiến một chiều. DSLR có nhược điểm, nhưng nó cũng có lợi thế. To hơn, béo hơn, mập hơn và ‘dễ cầm nắm’ hơn. Chúng xử lý tốt hơn với các ống kính lớn (và ống kính ngày càng lớn hơn qua từng năm) và chúng có nhiều không gian hơn cho các phím điều khiển bên ngoài, do đó bạn dành ít thời gian hơn để điều hướng các giao diện trên màn hình cảm ứng (hãy thử khi nó bị ướt hoặc bạn đang đeo găng tay!) và pin của nó thì kéo dài cả ngày, thay vì chỉ buổi sáng.

Nó cũng có kính ngắm quang học. Người dùng Mirrorless có thể không quan tâm, nhưng fan của DSLR sẽ không bao giờ muốn hoán đổi hình ảnh trên kính ngắm ‘mắt trần’ của DSLR với màn hình / kính ngắm điện tử, bất kể nó tốt đến đâu.

Còn một điều khác. Nếu bạn có ngân sách eo hẹp, bạn sẽ phải nỗ lực để tìm một chiếc máy ảnh mirrorless có kính ngắm với giá tương đương với máy ảnh DSLR – và tất cả các máy ảnh DSLR đều có kính ngắm. Trên thực tế, chúng ta sẽ đi xa hơn. Bạn không thể có máy ảnh mirrorless APS-C có kính ngắm với giá tương đương với máy ảnh Nikon D3500 hoặc Canon EOS 2000D. Ngoại trừ Sony A6000, nhưng đó là máy ảnh 5 năm tuổi.

DSLR vẫn là một lựa chọn tuyệt vời nếu bạn thích máy ảnh của mình to, mập mạp về vật lý. Chúng cũng có thể quay video, nhưng nếu đó là mối quan tâm chính của bạn thì có lẽ bạn nên cân nhắc đến một chiếc máy ảnh mirrorless.

Nhiều người mong muốn một chiếc DSLR Pentax full-frame trong một thời gian – và K-1 và K-1 II đã không làm mọi người thất vọng.

Khi nào nên chọn mirrorless

Thân máy ảnh mirrorless nhỏ hơn và, nếu bạn chọn cẩn thận, bạn có thể mang theo ống kính nhỏ hơn – mặc dù điều này chỉ thực sự đúng với định dạng Micro Four Thirds, vì máy ảnh không gương lật APS-C có ống kính lớn như các máy ảnh DSLR của chúng .

Nếu bạn là một Instagramer, influencer, vlogger hoặc blogger, một chiếc máy ảnh mirrorless như Olympus PEN-EPL9 hoặc Canon EOS M50 là hoàn hảo. Chúng nhỏ, nhẹ và dễ thích nghi và có màn hình nghiêng / góc thay đổi cho phép bạn chụp từ mọi góc độ. Chúng tuyệt vời cho cả video và ảnh tĩnh và có thể dễ dàng nằm gọn trong một chiếc túi hàng ngày.

Nếu bạn là một nhà quay phim chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp, mirrorless cũng là phương án cần quan tâm. Đây là chỗ mà tất cả sự phát triển về quay video bằng máy ảnh, ống kính, phần cứng và phụ kiện đang diễn ra, với các máy ảnh như Nikon Z 6 và Sony A7 III.

Nhưng nếu bạn là một nhiếp ảnh gia chụp ảnh tĩnh thường xuyên thỉnh thoảng thêm vài đoạn video, sự lựa chọn sẽ khó khăn hơn và bạn phải tự quyết định xem mình thích cái nào hơn. Thị trường đang hướng tới mirrorless, nhưng DSLR vẫn đang phục vụ tốt, và có rất nhiều người muốn thiết kế máy ảnh cũ có khả năng thích ứng và bền bỉ này sẽ tiếp tục tồn tại mãi mãi.

DSLR chưa chết đi đâu được. Máy ảnh mirrorless có thể là tương lai, nhưng tương lai chưa có ở đây và hiện tại, thiết kế DSLR vẫn làm được một số điều tuyệt vời khi máy ảnh không gương lật vẫn đang chơi trò chơi đuổi bắt.